Rối loạn tâm căn sau sang chấn
http://suckhoedoisongvietnam.blogspot.com/2014/03/roi-loan-tam-can-sau-sang-chan.html
Người bệnh thường nhớ lại và nghiền ngẫm sang chấn một cách có ý thức. Các biểu hiện bệnh lý như cơn giận dữ, hành vi tự vệ hoặc tấn công, các ác mộng về những nhận cảm của sang chấn có thể tái diễn trong nhiều năm.
A. Bệnh nguyên
1. Do chịu đựng sau một sang chấn tâm thần
Ba tình huống có thể xảy ra:
a. Một sang chấn tâm thần duy nhất, mạnh, không lường trước được.
- Có liên quan tới một tình huống đe dọa sự tồn tại và tính toàn vẹn cơ thể như: một thảm họa, một trận đánh, một sự tấn công, mà bệnh nhân đã phải trải qua một cách dữ dội, nguy hiểm, ít nhiều gây rối loạn ý thức.
- Phá vỡ cấu trúc tâm lý và loại trừ khả năng tự vệ của bệnh nhân.
b. Các sang chấn vật lý và tâm thần lặp lại, vượt quá ngưỡng chịu đựng của bệnh nhân: các hoạt động quân sự kéo dài, các tình huống căng thẳng cực điểm (tù đày, tra tấn).
Có thể có giai đoạn tiềm tàng kéo dài nhiều tháng từ lúc có sang chấn đến khi xuất hiện các triệu chứng.
c. Một chấn thương cơ thể có thể dẫn tới rối loạn tâm căn sau sang chấn.
Loại chấn thương này thường liên quan tới vị trí quan trọng của cơ thể: đầu, lưng, tay (nhất là các chấn thương sọ, phức hợp cơ thể - tâm căn rất thường gặp).
2. Do nhân cách của bệnh nhân
- Tính không ổn định của sự cân bằng tâm thần có thể tạo ra một trạng thái ‘tâm căn tiềm tàng’, là nhân tố thuận lợi của rối loạn tâm căn sau sang chấn.
- Chiều hướng phản ứng của bệnh nhân với sang chấn và sự cộng hưởng cảm xúc được thay đổi theo nhân cách, theo trạng thái sẵn sàng tự về, theo tính dễ bị tổn thương…
- Các nhân tố dễ bị tổn thương có thể có vai trò trong các bệnh tâm căn thời chiến: suy kiệt cơ thể, thiếu đoàn kết trong đơn vị, xung đột tâm lý, cảm giác tội lỗi liên quan tới cái chết của đồng đội (rối loạn tâm căn của người sống sót).
3. Do phản ứng có liên quan của người thân và xã hội
Có thể là nhân tố thuận lợi cho cấu trúc rối loạn tâm căn sau sang chấn.
- Vai trò của người vợ (chồng) rất quan trọng đối với phản ứng cảm xúc của người bệnh.
- Thái độ của người thầy thuốc có thể làm thay đổi tiến triển (hoặc thoái lui, hoặc tiến triển nặng lên).
- Trong giám định liên quan tới bồi thường vật chất, có thể gặp những rối loạn tâm căn sau sang chấn nặng lên do một tai nạn không thể bồi thường được.
B. Triệu chứng lâm sàng
Bệnh cảnh lâm sàng bao gồm ba phương thức biểu hiện tiếp theo sau sang chấn từ vài tuần đến vài tháng.
1. Các hội chứng sau sang chấn đặc trưng
Tập trung quanh trạng thái kinh hãi:
- Kích động cảm xúc
- Cơn run rẩy, cơn khóc.
- Cảm xúc hỗn loạn, tấn công.
- Nhạy cảm với các kích thích thị giác, xúc giác, đặc biệt là thính giác.
- Phong tỏa các chức năng sinh thể
- Có thể dẫn tới mệt lả và sững sờ (có thể ngất).
- Thường là vô cảm kèm suy nhược.
- Mất hứng thú cảm xúc và tình dục.
- Xu hướng lặp lại các triệu chứng
- Người bệnh thường nhớ lại và nghiền ngẫm sang chấn một cách có ý thức.
- Các cơn giận dữ.
- Các hành vi tự vệ hoặc tấn công.
- Các ác mộng về những nhận cảm của sang chấn.
- Xu hướng tái diễn này có thể kéo dài nhiều năm.
2. Các hội chứng sau sang chấn không đặc trưng
- Tăng tuần tự và đồng thời.
- Phụ thuộcvào nhân cách, môi trường và sang chấn.
- Phức hợp lâm sàng bao gồm:
- Các rối loạn tâm thần khác nhau (nghi bệnh, tâm căn suy nhược…) có thể có.
- Tai biến hystérie (hystérie sau sang chấn).
- Trầm cảm (thường gặp trong rối loạn tâm căn sống sót): cảm giác tội lỗi, suy giảm giá trị bản thân…
- Sợ - ám ảnh phù hợp với các tình huống gây sang chấn.
3. Tiến triển lâu dài dẫn đến một sự thay đổi nhân cách với các hiện tượng:
- Quay về thái độ phụ thuộc, bị động, trẻ con, với những yêu sách về tài chính và cảm xúc.
- Tập trung chú ý vào hình dạng cơ thể.
C. Chẩn đoán phân biệt
Phân biệt với:
- Các trạng thái tổn thương thần kinh sau chiến tranh.
- Hội chứng chủ quan của những người bị chấn thương sọ não.
- Hoang tưởng đòi hỏi.
- Hiện tượng giả tạo.
D. Tiến triển
- Nặng lên theo tuổi (tàn phế, nếu trên 40 tuổi).
- Thuận lợi nếu được sống trong bối cảnh mới.
- Có thể tiến triển tới:
- Một bệnh tâm căn phân ly, sợ ám ảnh thời chiến.
- Một trầm cảm tâm căn.
- Một hoang tưởng đòi hỏi.
- Tính cách có thể trở nên khép kín.
Đ. Điều trị
Điều trị càng sớm tiên lượng càng tốt
- Trong rối loạn tâm căn thời chiến, việc chăm chữa tâm thần sẽ cho kết quả tốt khi người bệnh tỉnh dậy sau một giác ngủ nhân tạo hoặc khi gây nhủ nhẹ, thôi miên (phương pháp hồi cảm sang chấn).
- Trong dự phòng tâm căn sau sang chấn, vai trò của thầy thuốc là chủ yếu: gây được lòng tin ở bệnh nhân, làm họ yên lòng, giải thích hợp lý về kế hoạch thăm khám và điều trị, điều trịc các triệu chứng chính (lo âu, mất ngủ, trầm cảm).
- Tránh nhập viện không cần thiết và kéo dài (nhân tố gây thoái triển).
- Điều trị kết hợp chặt chẽ và liên tục các liệu pháp.
- Điều quan trọng là bệnh nhân cảm thấy được giúp đỡ và thông cảm. Tránh tạo thuận lợi cho thái độ phụ thuộc.
- Lo âu cấp: dùng các thuốc giải lo âu.
- Dùng các thuốc chống trầm cảm trong các trường hợp trầm cảm, hay có hoảng sợ kết hợp.
- Áp dụng liệu pháp tập tính trong trường hợp ám ảnh sợ thứ phát (trải nghiệm sang chấn, giải cảm ứng có hệ thống).
- Giám định sức khỏe tâm thần không chỉ can thiệp như là một phán xử pháp lý, mà còn để thức tỉnh trách nhiệm của bệnh nhân đối với công việc và cộng đồng, tạo thuận lợi cho sự tái thích ứng của bệnh nhân.
BS Nguyễn Minh Tuấn
(Trích từ cuốn Các rối loạn tâm thần, Chẩn đoán và điều trị)
