Rối loạn lo âu

Bệnh đặc trưng bởi những cơn lo âu đột ngột, thường xuất hiện về đêm, với biểu hiện lo âu lan tỏa, bồng bềnh, không đối tượng, đi kèm dự cảm về những điều nguy hiểm. Người bệnh cảm thấy đau thắt ngực, nghẹt thở, thậm chí rơi vào tình trạng bất động, lả đi trong chờ đợi một thảm họa.




 
A. Đặc điểm

1. Định nghĩa: Là một rối loạn có cấu trúc đơn sơ thể hiện ra ngoài bằng một mối lo âu không đối tượng, lan tỏa và dai dẳng.

2. Đặc điểm:

- Thường gặp ở nữ.

- Ở thanh thiếu niên thường gặp các cơn kịch phát trên nền tảng lo âu thường xuyên.

- Hình thái lâm sàng rất đa dạng, tùy theo biểu hiện tâm thần hay cơ thể của lo âu.

- Triệu chứng cơ thể là lý do đưa bệnh nhân đi khám thường xuyên về nội khoa.

B. Nhân cách

Những nét nhân cách thuận lợi:

- Một trạng thái thường xuyên căng thẳng, lo âu, mệt mỏi.

- Cảm xúc không ổn định, dễ cáu gắt.

- Tăng tính phản ứng với các kích thích của môi trường.

- Giấc ngủ bị rối loạn, ác mộng.

- Trạng thái luôn sợ hãi, cảm giác không an toàn.

- Luôn tìm kiếm sự hoàn hảo, sự thừa nhận và sự trấn an của người khác.

C. Nguyên nhân

- Nhân tố thể tạng thuận lợi cho lo âu là hậu quả của một môi trường bất lợi rất sớm (ở tuổi thơ ấu).

- Trạng thái lo âu thường thấy ở các thành viên gia đình người bệnh, đặc biệt ở người mẹ.

- Trên một nhân cách dễ bị tổn thương, các triệu chứng biểu hiện dưới tác dụng của các nhân tố hoàn cảnh thuận lợi như:
  • Bị ruồng bỏ.
  • Những ấn tượng xấu đã phải trải qua (như sự chia ly) ở một nhân cách phụ thuộc và chưa trưởng thành.
  • Tình trạng mất an toàn sau một bệnh cơ thể.
  • Trạng thái thi đấu (tính xâm phạm, cảm giác tội lỗi).
  • Tâm trạng bất toại hoặc xung đột.

D. Lâm sàng

1. Cơn lo âu điển hình

- Xuất hiện đột ngột, thường về đêm (nhưng cũng có thể xảy ra bất cứ lúc nào, khi chỉ có một mình hoặc ở chỗ đông người).

- Lo âu lan tỏa, bồng bềnh, không đối tượng: cảm giác nguy hiểm sắp xảy ra (thảm họa, điên, chết…).

- Nhiều rối loạn thực vật đi kèm: nhợt nhạt, vã mồ hôi, trống ngực, nhịp tim nhanh, run, buồn nôn, nôn.

- Cơn náo động lo âu (hoặc bất động, lả đi trong sự chờ đợi một thảm họa).

- Các triệu chứng cơ thể chủ quan rất rõ rệt: đau thắt ngực, nghẹt thở, chóng mặt.

- Cơn kết thúc đột ngột sau vài phút, thậm chí vài giờ, đôi khi có đái vãi hoặc tiêu chảy.

- Có thể chỉ có một cơn hoặc có các cơn tiếp theo nhau.

- Bệnh nhân thừa nhận tính chất phi lý của cơn.

2. Trạng thái tương đương cơn lo âu

a. Các biểu hiện cơ thể

- Biểu hiện tim mạch: thường gặp nhất trong cơn đa hình thái như tim không ổn định, suy thần kinh tuần hoàn…

- Biểu hiện hô hấp:  rối loạn nhịp thở kiểu hen, hội chứng tăng thông khí dẫn tới cơn giả tétani (co cứng cơ), cơn ho thần kinh…

- Biểu hiện tiêu hóa: đau thượng vị, co thắt thực quản, dạ dày, ruột, viêm đại tràng co thắt, cơn đau quặn, mót rặn, cơn nấc, đói hoặc khát cực độ.

- Biểu hiện tiết niệu – sinh dục: đau vùng hố chậu, rối loạn tiểu tiện, ức chế tình dục.

- Biểu hiện thần kinh, giác quan, cơ: đau đầu, đau lưng, run, ngứa, có tiếng khó chịu trong tai, cơn chóng mặt với cảm giác bồng bềnh.

- Rối loạn giấc ngủ: ngủ gà, dễ thức giấc, ác mộng.

- Mệt mỏi: đôi khi gần như là kiệt sức.

b. Các biểu hiện tâm thần

Cơn sợ ám ảnh, ám ảnh, giải thể nhân cách (cảm giác không còn là chính mình), tri giác sai thực tại. Cần loại trừ nguyên nhân thực tổn

Đ. Chẩn đoán phân biệt rối loạn tâm căn lo âu

1. Với các cơn lo âu của:

a. Các biểu hiện thực tổn: khám lâm sàng kết hợp với cận lâm sàng để chẩn đoán.

b. Trầm cảm lo âu: Trầm cảm là biểu hiện chính: đau khổ tâm thần vô biên, mất ý chí, tự ti. Tiền sử có trầm cảm…

c. Tâm thần phân liệt: tính phủ định, căng trương lực, hoang tưởng, nghi bệnh, thiếu hòa hợp… đặc trưng cho tâm thần phân liệt.

2. Với lo âu trong:

a. Hystérie chuyển di:  Ở đây lo âu là thứ yếu, chủ yếu là những triệu chứng đặc trưng cho những xung đột tâm lý mà cá nhân không giải quyết nổi (quên, co giật, tê liệt, rối loạn giác quan…).

b. Bệnh tâm căn ám ảnh sợ: Sợ hãi và lo âu không hệ thống hoặc không thường xuyên và không ổn định. Luôn liên quan với lo sợ về các chủ đề đặc biệt: sợ bị bệnh, sợ chết, sợ khoảng rộng…

E. Điều trị

1. Cơn lo âu cấp

a. Liệu pháp hóa dược

- Các thuốc giải lo âu (tiêm) hoặc an thần kinh an dịu nếu cần.
- Nếu các cơn lo âu cấp thường tái diễn: có thể dùng chống trầm cảm 3 vòng điều trị lâu dài.

b. Liệu pháp tâm lý: liệu pháp nâng đỡ, thư giãn luyện tập.

2. Lo âu tâm căn: (Điều trị dài ngày cần lưu ý đến trạng thái nghiện có thể xảy ra).

a. Liệu pháp hóa dược: các thuốc giải lo âu cũ và mới.

b. Liệu pháp tâm lý: nâng đỡ, thư giãn – luyện tập, liệu pháp tập tính.

G. Tiên lượng

Tiên lượng của rối loạn tâm căn lo âu:

- Thường thuận lợi nêu thỉnh thoảng có vài cơn.

- Tiên lượng kém thuận lợi nếu cơn dày hơn và kéo dài, lo âu trong các bệnh lý khác.

- Mức độ tiến triển của rối loạn lo âu thường biểu hiện qua các triệu chứng nghi bệnh.

- Các nhân tố tác động tới tiên lượng
  • Sự cố gắng của bản thân.
  • Khả năng thích ứng với thực tại.
  • Khả năng chịu đựng những bất toại.
  • Tác động các tình huống khách quan.
  • Chất lượng điều trị. 




BS Nguyễn Minh Tuấn

(Trích từ cuốn Các rối loạn tâm thần, Chẩn đoán và điều trị)

Related

Rối loạn tâm thần 5139564730740890489

Post a Comment

item